Tựa Địa Tạng Bồ Tát Chí tâm quy mạng lễ: U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát "Địa" là dày chắc, "Tạng" chứa đủ. Cõi nước phương Nam nổi mây thơm, rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ. Mây xinh, mưa báu số không lường, lành tốt, trang nghiêm cảnh dị thường. Phật rằng: Địa Tạng đến Thiên Đường, chư Phật ba đời đồng khen chuộng. Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng, nay con sẵn có thiện nhơn duyên. Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng, lòng từ do chứa hạnh lành. Trải bao số kiếp độ sinh khỏi nàn, trong tay đã sẵn gậy vàng. Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sinh, tay cầm châu sáng tròn vìn. Hào quang soi khắp ba nghìn Đại Thiên, Diêm Vương trước điện chẳng hiền. Đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn, Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân. Chứng minh công đức của dân Diêm Phù. Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (đọc 3 lần) Tán Nguyện Hương Nguyện mây hương mầu này, khắp cùng mười phương cõi. Cúng dường tất cả Phật, Tôn pháp, các Bồ Tát. Vô biên chúng Thanh Văn và cả thảy Thánh Hiền, duyên khởi đài sáng chói. Trùm đến vô biên cõi, xông khắp các chúng sinh. Đều phát Bồ Đề tâm, xa lìa những nghiệp vọng. Trọn nên đạo vô thượng. Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần) Văn Phát Nguyện Lạy đấng Tam Giới Tôn, quy mạng mười phương Phật. Nay con phát nguyện rộng, thọ trì kinh Địa Tạng. Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ. Nếu có kẻ thấy nghe, đều phát Bồ Đề tâm. Hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) Kệ Khai Kinh Pháp vi diệu rất sâu vô lượng, trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp. Nay con thấy nghe được thọ trì, nguyện hiểu nghĩa chân thật của Phật. Nam mô U Minh giáo chủ hoằng nguyện độ sanh: Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sinh độ tận phương chứng Bồ Đề. Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần) Phẩm Thứ Nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi 1) Phật Hiện Thần Thông Một thuở nọ, tại cung Trời Đao Lợi, đức Phật thuyết pháp vì Thánh Mẫu. Tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới đều đến hội họp, khen ngợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật phóng ra trăm nghìn vừng mây sáng rỡ lớn và các thứ tiếng vi diệu (bố thí độ, trì giới độ, nhẫn nhục độ...). 2) Trời Rồng... Hội Họp Vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở cõi Ta Bà và cõi nước phương khác đều đến hội họp. Các vị Thần ở cõi Ta Bà và cõi nước phương khác (Thần biển, Thần sông, Thần cây...) đều đến hội họp. Các Đại Quỉ Vương ở cõi Ta Bà và cõi nước phương khác (Ác Mục Quỉ Vương, Đạm Huyết Quỉ Vương...) đều đến hội họp. 3) Đức Phật Phát Khởi Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng số chúng hội họp là vô lượng. Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng không thể đếm được. Đức Phật nói rằng số Thánh, phàm được Ngài Địa Tạng độ thoát là vô số. Ngài Văn Thù Sư Lợi xin Phật nói rõ nhân địa của Ngài Địa Tạng Bồ Tát. 4) Trưởng Giả Tử Phát Nguyện Tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát làm một vị Trưởng Giả Tử. Thấy Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Trưởng giả tử phát nguyện độ thoát tất cả chúng sanh. Do nguyện đó, Ngài vẫn còn làm Bồ Tát. 5) Bà La Môn Nữ Cứu Mẹ Bà La Môn Nữ có mẹ mê tín tà đạo, chết sa đọa vào Vô Gián địa ngục. Cô bán nhà, sắm hương hoa cúng dường Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Nghe tiếng Phật chỉ bảo, cô niệm danh hiệu Phật và thấy mình đến một bờ biển đầy thú dữ và người tội. Quỉ Vương Vô Độc giải thích đó là biển thứ nhất ở núi Đại Thiết Vi, dẫn đến các địa ngục. Những người tội trong biển là kẻ tạo ác ở cõi Diêm Phù Đề. Các biển nghiệp này là do nghiệp xấu của ba nghiệp mà cảm ra. 6) Vô Gián Địa Ngục Trong núi Thiết Vi có 18 địa ngục lớn, 500 địa ngục kế tiếp, và nghìn trăm địa ngục khác. Địa ngục Vô Gián rộng lớn, tường bằng sắt, lửa cháy hừng hực. Người tội chịu đủ khổ sở: bị quỉ Dạ Xoa đâm chém, rắn sắt cắn, nước đồng đổ vào miệng. Năm điều nghiệp cảm của Vô Gián địa ngục: Chịu khổ ngày đêm không ngừng ngớt. Thân đầy chật ngục. Khí cụ hành hình đủ loại, khổ sở liên miên. Không phân biệt giới tính, địa vị, đều chịu khổ. Không thể tạm ngừng khổ, trừ khi tội nghiệp tiêu hết. Quỉ Vương Vô Độc nói rằng mẹ của Thánh Nữ (Duyệt Đế Lợi) đã sanh lên cõi Trời nhờ lòng hiếu thuận của cô. Thánh Nữ phát nguyện rộng lớn cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ. Đức Phật bảo rằng Quỉ Vương Vô Độc là Tài Thủ Bồ Tát, còn Thánh Nữ Bà La Môn là Địa Tạng Bồ Tát. Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội 1) Hóa Thân Cùng Quyến Thuộc Các phân thân Địa Tạng Bồ Tát ở các nơi có địa ngục đều đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi. Những chúng sanh được Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa đều trụ nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Những chúng đó đã trôi lăn trong sinh tử lâu nay, nhờ Địa Tạng Bồ Tát mà chứng được đạo quả. 2) Đức Như Lai An Ủi Ủy Thác Đức Phật xoa đảnh hóa thân Địa Tạng Bồ Tát, giao phó giáo hóa chúng sanh trong đời ác ngũ trược. Địa Tạng Bồ Tát hiện ra nhiều thân (trai, gái, Trời, Rồng, Quỉ, Thần...) để độ thoát chúng sanh. Đức Phật nhấn mạnh Địa Tạng Bồ Tát đã nhọc nhằn độ thoát chúng sanh cang cường đầy tội khổ. 3) Địa Tạng Bồ Tát Phát Nguyện Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật xin độ thoát tất cả chúng sanh trong đời sau. Ngài nguyện rằng nếu chúng sanh nào làm lành dù nhỏ nhất, Ngài cũng độ thoát. Địa Tạng Bồ Tát ba lần xin Phật chớ lo cho chúng sanh ác nghiệp. Đức Phật khen Địa Tạng Bồ Tát và hứa giúp Ngài toại nguyện. Phẩm Thứ Ba: Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên 1) Phật Mẫu Thưa Hỏi Phật Mẫu Ma Gia Phu Nhơn hỏi Địa Tạng Bồ Tát về quả báo của chúng sanh ở Diêm Phù Đề. Địa Tạng Bồ Tát đáp rằng nghiệp báo sai khác tùy nơi. 2) Bồ Tát Lược Thuật Địa Tạng Bồ Tát lược nói về tội báo ở Nam Diêm Phù Đề. Tội bất hiếu, làm thân Phật bị thương, khinh chê Tam Bảo, xâm tổn của thường trụ, giả làm Sa Môn... đều sa vào Vô Gián địa ngục. Trộm cắp tài vật của thường trụ cũng sa vào Vô Gián địa ngục. Vô Gián địa ngục có năm điều: Chịu khổ không ngừng. Thân đầy chật ngục. Khí cụ hành hình đủ loại. Không phân biệt nam nữ, giàu nghèo. Không thể tạm ngừng khổ. Bà Ma Gia Phu Nhơn lo rầu và lui ra. Phẩm Thứ Tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh 1) Bồ Tát Vâng Chỉ Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng Ngài nương oai thần Phật để chia thân cứu vớt chúng sanh bị nghiệp báo. Ngài nguyện độ thoát chúng sanh trong sáu đường cho đến khi Phật Di Lặc ra đời. Đức Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát rằng chúng sanh chưa giải thoát thì tánh thức không định, dễ làm ác. Ngài nhắc lại nguyện rộng lớn của Địa Tạng Bồ Tát. 2) Định Tự Tại Vương Bạch Hỏi Bồ Tát Định Tự Tại Vương hỏi Phật về thệ nguyện của Địa Tạng Bồ Tát. Đức Phật giải thích về tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát. 3) Ông Vua Nước Lân Cận Về thuở trước, có đức Phật Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai ra đời. Ngài làm Vua một nước nhỏ, kết bạn với Vua nước lân cận, cùng làm lợi ích cho dân. Hai vua phát nguyện: một người nguyện sớm thành Phật, người kia nguyện độ hết chúng sanh tội khổ. Đức Phật nói Vua phát nguyện sớm thành Phật là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, còn Vua phát nguyện độ chưa hết chúng sanh là Địa Tạng Bồ Tát. 4) Quang Mục Cứu Mẹ Về thuở trước, có đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai ra đời. Vị La Hán gặp người nữ Quang Mục cúng dường, hỏi về mẹ cô. La Hán thấy mẹ Quang Mục đọa địa ngục vì nghiệp giết hại sanh vật. Quang Mục bán nhà, họa tượng Phật, phát nguyện độ thoát mẹ và tất cả chúng sanh. Đức Phật chỉ bảo mẹ Quang Mục sẽ được sanh lên cõi Trời. Đức Phật nói rằng La Hán đó là Vô Tận Ý Bồ Tát, mẹ Quang Mục là Giải Thoát Bồ Tát, và Quang Mục là Địa Tạng Bồ Tát. Đức Phật nhấn mạnh Địa Tạng Bồ Tát có lòng từ mẫn và thệ nguyện rộng lớn. Ngài liệt kê các quả báo của chúng sanh làm ác: cầm thú đói khát, tiêu dùng thiếu hụt, hèn hạ, không lưỡi, miệng lở, thân hình xấu xí, cầu muốn không được, điên cuồng, trời đất tru lục, cuồng mê, bị roi vọt, cốt nhục chia lìa, đui điếc câm ngọng, ở mãi ác đạo, luân hồi địa ngục, súc sanh, luân hồi mạng lẫn nhau. 5) Tứ Thiên Vương Hỏi Phật Bốn ông Thiên Vương hỏi Phật vì sao Địa Tạng Bồ Tát vẫn còn phát nguyện rộng lớn. Đức Phật giải thích Địa Tạng Bồ Tát dùng phương tiện cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ. 6) Phương Tiện Giáo Hóa Địa Tạng Bồ Tát dùng trăm nghìn muôn ức phương chước để giáo hóa chúng sanh. Ngài dạy rõ quả báo của kẻ sát hại, trộm cắp, tà dâm, nói lời thô ác. Phẩm Thứ Năm: Danh Hiệu Của Địa Ngục 1) Phổ Hiền Hạn Hỏi Bồ Tát Phổ Hiền hỏi Địa Tạng Bồ Tát về danh hiệu các địa ngục và quả báo của chúng sanh. 2) Danh Hiệu Của Địa Ngục Địa Tạng Bồ Tát liệt kê các địa ngục lớn và nhỏ trong núi Thiết Vi: Cực Vô Gián, Đại A Tỳ, Tứ Giác, Phi Đao, Hỏa Tiễn, Giáp Sơn, Thông Thương, Thiết Xa, Thiết Sàng, Thiết Ngưu, Thiết Y, Thiên Nhẫn, Thiết Lư, Dương Đồng, Bảo Trụ, Lưu Hỏa, Canh Thiệt, Tỏa Thủ, Thiêu Cước, Đạm Nhãn, Thiết Hoàn, Tránh Luận, Thiết Thù, Đa Sân, Kiếu Oán, Bạt Thiệt, Phẩn Niếu, Đồng Tỏa, Hỏa Tượng, Hỏa Cẩu, Hỏa Mã, Hỏa Ngưu, Hỏa Sơn, Hỏa Thạch, Hỏa Sàng, Hỏa Lương, Hỏa Ưng, Cứ Nha, Bác Bì, Ẩm Huyết, Thiêu Thủ, Thiêu Cước, Đảo Thích, Hỏa Ốc, Thiết Ốc, Hỏa Lang. Những địa ngục này là do chúng sanh làm điều ác mà cảm vời ra. 3) Tội Báo Trong Địa Ngục Địa Tạng Bồ Tát nói về các sự tội báo trong địa ngục: kéo lưỡi, moi tim, vạc dầu, đốt cột đồng, lửa bay tấp, băng giá, phân tiểu, lao gai, giáo lửa, đập vai lưng, đốt chân tay, rắn sắt quấn cắn, chó sắt xua đuổi, ách lừa sắt. Các khí cụ hành hình đều bằng đồng, sắt, đá, lửa. Địa Tạng Bồ Tát nói không thể kể hết các sự khổ ở địa ngục. Bà Ma Gia Phu Nhơn lo rầu và lui ra. Phẩm Thứ Sáu: Như Lai Tán Thán 1) Phật Phóng Quang Dặn Bảo Đức Phật phóng ánh sáng lớn, khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát. Ngài dặn các Bồ Tát Đại Sĩ cùng Trời, Rồng, Quỉ, Thần gìn giữ kinh này để cứu giúp chúng sanh. 2) Phổ Quảng Thưa Thỉnh Bồ Tát Phổ Quảng xin Phật nói về nhân quả của Địa Tạng Bồ Tát để lợi ích chúng sanh. 3) Phật Dạy Sự Lợi Ích Nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, hoặc chiêm ngưỡng tượng Ngài, sẽ qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp, sanh lên cõi Trời Đao Lợi. 4) Khỏi Nữ Thân Người nữ chán thân gái cúng dường tượng Địa Tạng Bồ Tát, sẽ không sanh vào cõi nước có người nữ. 5) Thân Xinh Đẹp Người nữ chán thân xấu xí, bịnh tật, chiêm ngưỡng tượng Địa Tạng Bồ Tát, sẽ được thân hình xinh đẹp. 6) Quỉ Thần Hộ Vệ Người cúng dường tượng Địa Tạng Bồ Tát sẽ được Quỉ Thần hộ vệ. 7) Khinh Chê Mắc Tội Người khinh chê hình tượng Địa Tạng Bồ Tát sẽ chịu tội khổ rất nặng trong địa ngục A Tỳ. 8) Tiêu Tội Chướng Người bệnh nằm liệt, chiêm bao thấy Quỉ dữ, đọc tụng kinh này, hoặc cúng dường vật báu cho tượng Phật, sẽ được lành bệnh, hoặc được sanh lên cõi trời. 9) Siêu Độ Vong Linh Người thấy Quỉ Thần trong giấc mộng, do thân quyến bị đọa vào ác đạo, nên đọc kinh này, sẽ được giải thoát. 10) Khỏi Nô Lệ Người hạ tiện, tớ trai, tớ gái chiêm ngưỡng tượng Địa Tạng Bồ Tát, niệm danh hiệu Ngài, sẽ được sanh vào bực tôn quí. 11) Sanh Con Dễ Nuôi Người có con mới sanh, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, sẽ được an ổn, dễ nuôi, sống lâu. 12) Ngày Thập Trai Tụng Kinh Được Phước Tụng kinh này vào mười ngày trai (mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi) sẽ được tránh khỏi tai nạn. 13) Danh Hiệu Của Kinh Kinh này có ba danh hiệu: "Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh", "Địa Tạng Bổn Hạnh Kinh", "Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh". Phẩm Thứ Bảy: Lợi Ích Cả Kẻ Còn Người Mất 1) Khuyên Tu Thánh Đạo Địa Tạng Bồ Tát nói rằng chúng sanh ở Diêm Phù Đề thường tạo tội. Nếu chúng sanh sắp mạng chung, cha mẹ thân quyến tu tạo phước lành, người chết sẽ được tiêu sạch tội ác, sanh lên cõi Trời. Không nên giết hại và cúng tế Quỉ Thần khi có người chết. 2) Trưởng Giả Bạch Hỏi Vị Trưởng Giả Đại Biện hỏi Địa Tạng Bồ Tát về lợi ích của việc tu công đức cho người chết. 3) Kẻ Còn, Người Mất Đều Được Lợi Địa Tạng Bồ Tát đáp rằng nghe danh hiệu Phật, Bồ Tát, Bích Chi Phật sẽ được giải thoát. Nếu thân quyến tu tạo phước lợi cho người chết, người chết sẽ được một phần công đức, người sống được sáu phần. Thần hồn người chết khi chưa được thọ sanh, trông ngóng thân quyến tu tạo phước lành. Sau bốn mươi chín ngày, nghiệp báo sẽ đến, người phạm tội vô gián sẽ đọa địa ngục ngàn kiếp. Khi làm chay cúng dường, không nên ăn trái phép, phải tinh sạch kỹ lưỡng. Người còn lẫn người mất đều được lợi ích. Phẩm Thứ Tám: Các Vua Diêm La Khen Ngợi 1) Diêm La Vương Cùng Quỉ Vương Vân Tập Vô lượng Quỉ Vương cùng Vua Diêm La đến cung Trời Đao Lợi. Các vị Quỉ Vương có chức trách và phần chủ trị riêng. 2) Vua Diêm La Bạch Phật Vua Diêm La hỏi Phật vì sao chúng sanh vừa thoát tội báo lại bị đọa vào ác đạo. 3) Phật Giảng Sở Nhơn Đức Phật nói chúng sanh ở Diêm Phù Đề tánh tình cứng cỏi, khó dạy. Địa Tạng Bồ Tát dùng phương tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên. Ngài ví chúng sanh như người quên đường lạc vào đường hiểm, được thiện tri thức dẫn dắt ra khỏi. Nếu chúng sanh đó kết nghiệp ác quá nặng, thì ở mãi chốn địa ngục. 4) Quỉ Vương Bày Thiện Nguyện Ác Độc Quỉ Vương bạch Phật rằng Quỉ Vương có vị làm lợi ích, có vị làm tổn hại. Nếu có người làm chút phước lành, các Quỉ Vương sẽ hộ trợ giữ gìn. 5) Chủ Mạng Trình Thưa Quỉ Vương Chủ Mạng bạch Phật rằng nghiệp duyên của Ngài là cai quản tuổi thọ, khi sanh khi tử đều coi biết. 6) Khi Sanh Nở Nên Làm Lành Kiêng Ác Khi mới sanh, nên làm việc phước lành để mẹ con được an vui. Không nên giết hại sanh vật, hội họp ăn uống ca hát. 7) Lúc Chết Nên Tu Phước Khi người mạng chung, thân quyến nên làm sự cúng dường lớn, tụng kinh, niệm Phật để người chết thoát khỏi ác đạo. 8) Đức Phật Căn Dặn Đức Phật bảo Chủ Mạng Quỉ Vương chớ quên lời nguyện độ chúng sanh. 9) Đức Phật Thọ Ký Cho Chủ Mạng Chủ Mạng Quỉ Vương đã làm vị Quỉ Vương trăm nghìn đời, ủng hộ chúng sanh. Đó là Bồ Tát Đại Sĩ hiện thân đại Quỉ. Sau một trăm bảy mươi kiếp, Ngài sẽ thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai. Phẩm Thứ Chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật Địa Tạng Bồ Tát xin Phật cho phép nói về lợi ích của việc xưng danh hiệu chư Phật. Đức Phật chấp thuận. Địa Tạng Bồ Tát nói về lợi ích của việc nghe danh hiệu các Phật: Vô Biên Thân Như Lai, Bửu Thắng Như Lai, Ba Đầu Ma Thắng Như Lai, Sư Tử Hống Như Lai, Câu Lưu Tôn Như Lai, Tỳ Bà Thi Như Lai, Đa Bửu Như Lai, Bửu Tướng Như Lai, Ca Sa Tràng Như Lai, Đại Thông Sơn Vương Như Lai, Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Trí Thắng Phật, Tịnh Danh Vương Phật, Trí Thành Tựu Phật, Vô Thượng Phật, Diệu Thinh Phật, Mãn Nguyệt Phật, Nguyệt Diện Phật. Nghe danh hiệu Phật sẽ được siêu việt tội nặng, sanh lên cõi Trời, thành Phật. Nếu người sắp mạng chung được người khác niệm danh hiệu Phật, tội nặng sẽ tiêu sạch. Phẩm Thứ Mười: So Sánh Nhân Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí Địa Tạng Bồ Tát hỏi Phật về sự so sánh công đức bố thí. Đức Phật giải thích về công đức bố thí của Quốc Vương, Đại Thần cho người nghèo túng, tật nguyền. Công đức đó bằng cúng dường trăm Hằng hà sa chư Phật. Quốc Vương cúng dường chùa tháp, tượng Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật, sẽ được làm Trời Đế Thích ba kiếp. Nếu hồi hướng cho tất cả chúng sanh, sẽ làm Trời Đại Phạm Thiên Vương mười kiếp. Tu bổ chùa tháp, kinh điển sẽ làm vua Chuyển Luân trăm nghìn đời. Cúng dường thuốc men, cơm nước cho người già yếu, bệnh tật, phụ nữ sanh đẻ, sẽ làm Vua trời Tịnh Cư trăm kiếp, Vua sáu từng Trời cõi Dục hai trăm kiếp. Gieo trồng chút cội phước lành sẽ hưởng phước lợi vô hạn. Gặp kinh điển Đại Thừa, nghe một bài kệ, phát tâm trân trọng cúng dường, sẽ được quả báo lớn vô lượng vô biên. Gặp chùa tháp và kinh điển Đại Thừa mới hoặc cũ, sửa sang tu bổ, sẽ làm vua các nước nhỏ ba mươi đời. Nếu hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sanh, công đức sẽ vô lượng. Phẩm Thứ Mười Một: Địa Thần Hộ Pháp Kiên Lao Địa Thần bạch Phật rằng Địa Tạng Bồ Tát có thệ nguyện sâu rộng hơn các Bồ Tát khác. Ngài phát nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường. Nếu xây khám thất, họa vẽ tượng Địa Tạng Bồ Tát, cúng dường, sẽ được mười điều lợi ích: Đất cát tốt mầu. Nhà cửa an ổn. Người chết được sanh lên cõi trời. Người hiện còn hưởng lợi ích. Cầu chi cũng toại ý. Không có tai họa về nước và lửa. Trừ sạch việc hư hao. Dứt hẳn ác mộng. Khi ra lúc vào có thần hộ vệ. Thường gặp bực Thánh nhơn. Nếu có người có kinh điển và tượng Địa Tạng Bồ Tát, đọc tụng, cúng dường, Địa Thần sẽ hộ vệ, tiêu sạch tai họa. Đức Phật khen thần lực của Địa Thần. Địa Thần hộ trợ cõi Diêm Phù Đề, nên công đức của Ngài càng trội hơn. Các vị Trời, Rồng, tám bộ chúng ủng hộ những người chiêm lễ tượng Địa Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh này. Phẩm Thứ Mười Hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích 1) Đức Phật Phóng Quang Tuyên Cáo Đức Phật phóng ra trăm nghìn muôn ức tia sáng lớn, khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát. 2) Quán Thế Âm Bồ Tát Cầu Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát xin Phật nói về lợi ích của Địa Tạng Bồ Tát. 3) Đức Phật Tán Thán Và Hứa Khả Đức Phật nói Quán Thế Âm Bồ Tát có nhân duyên lớn với chúng sanh ở cõi Ta Bà. Ngài sẽ nói về lợi ích của Địa Tạng Bồ Tát. 4) Thấy Nghe Thêm Phước Trời Các vị trời sắp hết phước, thấy hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, hoặc nghe tên Ngài, sẽ được thêm phước trời. 5) Người Bệnh Được Lợi Người sắp mạng chung nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, sẽ không bị đọa vào ba ác đạo. Nếu thân quyến cúng dường vật báu cho tượng Địa Tạng Bồ Tát, người bệnh sẽ được lành mạnh, sống lâu, hoặc sanh lên cõi trời. 6) Tiên Vong Được Phước Người có con cái sớm khuất, tô vẽ tượng Địa Tạng Bồ Tát, sẽ được giải thoát, sanh lên cõi trời. 7) Nguyện Lớn Sớm Thành Người phát lòng từ cứu độ chúng sanh, tu đạo vô thượng chánh giác, thoát tam giới, chiêm ngưỡng tượng Địa Tạng Bồ Tát, sẽ được thành tựu nguyện cầu. 8) Được Trí Huệ Người trân trọng kinh điển Đại Thừa, nhưng vì nghiệp chướng mà quên, chiêm ngưỡng tượng Địa Tạng Bồ Tát, sẽ được trí huệ, nhớ kinh điển. 9) Tai Nạn Tiêu Trừ Người ăn mặc không đủ, bệnh tật, hung suy, nhà cửa không yên ổn, nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, sẽ tiêu sạch tai nạn. 10) Khỏi Hiểm Nguy Người đi đường hiểm, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, sẽ được Quỉ Thần hộ vệ, tránh khỏi độc hại. Đức Phật nói kệ khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát. Phẩm Thứ Mười Ba: Dặn Dò Cứu Độ Nhơn Thiên 1) Đức Phật Giao Phó Đức Phật xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát, khen thần lực, từ bi, trí huệ, biện tài của Ngài. Ngài giao phó chúng sanh ở trong nhà lửa chưa ra khỏi ba cõi cho Địa Tạng Bồ Tát. Ngài căn dặn Địa Tạng Bồ Tát chớ để chúng sanh bị đọa vào ác đạo. Đức Phật nói kệ dặn dò Địa Tạng Bồ Tát. 2) Bồ Tát Tuân Chỉ Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng Ngài sẽ dùng phương tiện độ thoát chúng sanh, không thối chuyển. 3) Hư Không Tạng Bạch Hỏi Hư Không Tạng Bồ Tát hỏi Phật về phước lợi của người nghe kinh và danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát. 4) Hai Mươi Tám Điều Lợi Đức Phật nói người thấy hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, nghe kinh, đọc tụng, cúng dường, sẽ được hai mươi tám điều lợi ích: Trời, Rồng hộ niệm. Quả lành càng lớn. Chứa nhóm nhân vô thượng của Thánh. Không thối thất đạo Bồ Đề. Đồ mặc món ăn đầy đủ. Không bệnh tật. Khỏi tai nạn lửa nước. Không bị trộm cướp. Người khác kính trọng. Quỉ Thần hộ trì. Thân gái chuyển thành thân trai. Làm con gái các hàng Vương Giả, Đại Thần. Thân tướng xinh đẹp. Sanh về cõi trời. Làm vua chúa. Trí sáng biết rõ việc đời trước. Cầu chi cũng toại ý. Quyến thuộc an vui. Tai vạ bất ngờ trừ sạch. Nghiệp ác trừ hẳn. Đi đến đâu cũng không trở ngại. Đêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ. Người thân tộc đã chết nếu có tội được khỏi khổ. Nếu có phước thì được thọ sanh về cõi vui sướng. Các bậc Thánh ngợi khen. Căn tánh lanh lợi thông minh. Giàu lòng từ mẫn. Rốt ráo thành Phật. 5) Bảy Điều Lợi Hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, đảnh lễ hình tượng, hoặc nghe về bổn nguyện tu hành của Ngài, sẽ được bảy điều lợi ích: Mau chứng bậc Thánh. Nghiệp ác tiêu diệt. Chư Phật đến ủng hộ. Không thối thất Bồ Đề. Bổn lực được tăng trưởng. Việc đời trước đều rõ biết. Rốt ráo thành Phật. 6) Đại Hội Tán Thán Các đức Phật và Bồ Tát cùng tám bộ chúng đều khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát. Trời Đao Lợi rưới hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc cúng dường. Bổn Thệ Địa Tạng Bổn Thệ Địa Tạng, so nhân trong kinh. Tàn tật, câm ngọng do tiền sinh, đời nay tụng Đại Thừa. Phước lợi vô cùng, quyết sen báu vãng sanh. Nam mô Thường Trụ thập phương Tăng (3 lần). Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần). Đao Lợi, Thế Tôn nói pháp mầu, Địa Tạng công hạnh rất rộng sâu. Thánh giáo mãi truyền sau chẳng ngót, khắp lợi Trời, người khỏi khổ sầu. Trời, A-tu-la, Dạ xoa thảy, đến nghe pháp đó nên chí tâm. Ủng hộ Phật pháp khiến thường còn, mỗi vị siêng tu lời Phật dạy. Bao nhiêu người nghe đến chốn này, hoặc trên đất liền hoặc hư không. Thường đối với người đời sanh từ tâm, ngày đêm tự mình nương pháp ở. Nguyện các thế giới thường an ổn, phước trí vô biên lợi quần sinh. Bao nhiêu tội nghiệp thảy đều trừ, xa lìa các khổ về viên tịch. Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng, thường gìn định phục để giúp thân. Hoa mầu Bồ Đề khắp trang nghiêm, tùy theo chỗ ở thường an lạc. Nam mô Tồi Tà Phụ Chính Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần). Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Quán-Tự-Tại Bồ Tát hành thâm Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách. Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô Trí diệc vô Đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ- Đề-tát-đỏa y Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, đắc A-nậu đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề. Cố tri Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng-đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thật bất hư. Cố thuyết Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa chú. Tức thuyết chú viết: Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la- tăng yết-đế, bồ đề tát-bà-ha. Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Đắc Sanh Tịnh-Độ Đà La Ni Nam mô A Di đa bà dạ, Đa tha già đa dạ, Đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị già già na, chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần) A Di Đà Phật thân kim sắc, tướng hảo quang minh vô đẳng luân. Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô sô ức, hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên. Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. Nam-mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật. Nam-mô A Di Đà Phật (108 lần). Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát (10 lần). Nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát (10 lần). Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (10 lần). Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (10 lần). Sám Thập Phương Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất. Cửu phẩm độ chúng sanh, oai đức vô cùng cực. Ngã kim đại quy y, sám hối tam nghiệp tội. Phàm hữu chư phước thiện, chí tâm dụng hồi hướng. Nguyện đồng niệm Phật nhơn, cảm ứng tùy thời hiện. Lâm chung tây phương cảnh, phân minh tại mục tiền. Kiến văn giai tinh tấn, đồng sanh Cực Lạc quốc. Kiến Phật liễu sanh tử, như Phật độ nhất thiết. Vô biên phiền não đoạn, vô lượng pháp môn tu. Thệ nguyện độ chúng sanh, tổng giai thành Phật đạo. Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng. Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí. Nhất giả lễ kính chư Phật, nhị giả xưng tán Như-Lai. Tam giả quảng tu cúng dường, tứ giả sám hối nghiệp-chướng. Ngũ giả tùy hỷ công-đức, lục giả thỉnh chuyển pháp luân. Thất giả thỉnh Phật trụ thế, bát giả thường tùy Phật học. Cửu giả hằng thuận chúng sanh, thập giả phổ giai hồi hướng. Hồi Hướng Niệm Phật công đức thù thắng hạnh, vô biên thắng phước giai hồi hướng. Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh, tốc vãng Vô Lượng Quang Phật sát. Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não, nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu. Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ, thế thế thường hành Bồ tát đạo. Nguyện sanh Tây phương Tịnh Độ trung, cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu. Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, bất thoái Bồ tát vi bạn lữ. Nguyện dĩ thử công đức, phổ cập ư nhất thiết. Ngã đẳng dữ chúng sanh, giai cộng thành Phật đạo. Phục Nguyện A Di Đà Phật thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn. Lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di Đà, dữ chư thánh chúng, thủ chấp kim đài, lai nghinh tiếp ngã, nhất sát na khoảnh, sinh tại Phật tiền, cụ Bồ Tát đạo, quảng độ chúng sanh, đồng thành chủng trí. Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy) Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát (1 lạy). Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Liên Trì Hải Hội Phật, Bồ Tát, nhất thiết hiền thánh chúng, chư Thượng Thiện nhân. (1 lạy). Tam Quy-Y Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại. Thích Nghĩa (1) Trời Đao Lợi: Tầng trời thứ hai trong sáu từng trời ở cõi Dục, nghĩa là ba mươi ba, nơi núi Tu Di, có 33 nước trời. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp tại đây để đáp ơn sinh thành của Thánh mẫu Ma Gia phu nhân. (2) Vô lượng, vô-biên, vô-số, bất khả thuyết, bất tư nghị, v.v..: Các con số lớn thường dùng bên Thiên Trúc. (3) Đời ác ngũ trược: Hiện thời có đủ năm điều ác: a. Kiếp trược: Thời gian biến đổi không ngừng. b. Kiến trược: Sự thấy biết sai lầm. c. Phiền não trược: Tham, sân, si mê. d. Chúng sinh trược: Sinh tử luân hồi. e. Mạng trược: Thọ mạng ngắn ngủi. Cang cường: Tính tình ương ngạnh khó bảo. Pháp khổ pháp vui: Tức là tứ chân đế lý (Khổ, Tập, Diệt, Đạo). (4) Thị giả: Người hầu hạ Phật, tức là Bồ Tát. (5) Cõi Dục có sáu từng trời: a. Trời Tứ Thiên Vương. b. Trời Đao Lợi. c. Trời Tu Diệm Ma (Dạ Ma). d. Trời Đâu-Suất-Đà. e. Trời Hóa-Lạc. f. Trời Tha-Hóa-Tự-Tại. Cõi Sắc (Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm, Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Quang Âm, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh, Phước Sanh, Phước Ái, Quảng Quả, Nghiêm Sức, Vô Lượng Nghiêm Sức, Nghiêm Sức Quả Thiệt, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Sắc Cứu Cánh, Ma Hê Thủ La). Cõi Vô Sắc có 4 từng (Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên). (6) Tám bộ chúng: Thiên chúng, Long chúng, Dạ xoa chúng, Càn Thát Bà chúng, A Tu La chúng, Ca Lâu La chúng, Khẩn Na La chúng, Ma Hầu La Già chúng. (7) Sông Hằng: Dùng để chỉ số lượng lớn. Bồ Tát thuộc về đại thừa, có ba mươi bậc Hiền: Trụ vị, Hạnh vị, Hướng vị. 10 bậc Thánh (Thập Địa): Hoan Hỷ địa, Ly Cấu địa, Phát Quang địa, Diệm Huệ địa, Nan Thắng địa, Hiện Tiền địa, Viễn Hành địa, Bất Động địa, Thiện Huệ địa, Pháp Vân địa. Bích Chi Phật thuộc về Trung thừa (Độc Giác, Duyên Giác). Thanh Văn thuộc về tiểu thừa (Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán). (8) Ác đạo: Ba đường dữ (Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa Ngục). (9) Ba ngôi báu quý: Phật, Pháp, Tăng. (10) Chính kiến: Kiến giải đúng Phật pháp. (11) Vô Gián địa ngục: Địa ngục vô gián. (12) Quỷ vương: Chúa loài quỷ. (13) Oai thần: Thần thông các bậc Thánh. Nghiệp lực: Sức nghiệp ác của chúng sinh. (14) Do-tuần: Khoảng 40 dặm. (15) Ba nghiệp: Thân, khẩu, ý. (16) Mười hạnh lành: Ba hạnh thuộc về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Bốn hạnh thuộc về khẩu: Không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt. Ba hạnh thuộc về ý: Không tham lam, không hờn giận, không si mê. (17) Nghĩa của các địa ngục: Giải thích chi tiết các địa ngục đã nêu. (18) Năm tướng suy hao: Năm dấu hiệu khi một vị Trời sắp chết. (19) Mười phương chư Phật ba đời: Chỉ các đức Phật trong không gian và thời gian vô tận. Đức Phật A Di Đà là bậc nhất. (20) Mười điều nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát: 1. Lễ kính chư Phật. 2. Xưng tán Như Lai. 3. Rộng sắm cúng dường. 4. Sám hối nghiệp chướng. 5. Tùy hỉ công đức. 6. Thỉnh chuyển pháp luân. 7. Thỉnh Phật trụ thế. 8. Thường học theo Phật. 9. Tùy thuận chúng sanh. 10. Đều hồi hướng khắp cả. Mười Công Đức Ấn Tống Kinh, Tượng Phật Tội lỗi nhẹ thì tiêu trừ, nặng thì chuyển nhẹ. Được các thiện thần ủng hộ, tránh tai ương hoạn nạn. Tránh khỏi quả báo phiền khổ, oan trái. Các vị hộ pháp thiện thần gia hộ, tránh xa ác quỷ, rắn độc. Tâm an vui, không gặp nguy khốn, không ác mộng, diện mạo hiền sáng, mạnh khỏe, việc làm thuận lợi. Chí thành hộ pháp, không cầu lợi, y phục đầy đủ, gia đình hòa thuận, phước lộc đời đời. Lời nói việc làm trời người hoan hỷ, được mọi người kính mến. Ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh, nghèo chuyển thành thịnh đạt, nữ thân chuyển thành nam thân. Vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy. Trồng các căn lành, làm ruộng phước điền, đạt vô lượng phước quả thù thắng, thấy Phật, nghe Pháp, phước huệ rộng lớn, chứng lục thông, sớm thành Phật quả.